Hội thảo diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và hành lang pháp lý từ Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025. Sự kiện đã quy tụ đông đảo các nhà hoạch định chính sách từ các cơ quan của Quốc hội, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC), các viện nghiên cứu, trường đại học lớn cùng đại diện các sở, ngành và cộng đồng doanh nghiệp. 

 

 

Diễn văn Khai mạc và Định hướng Chiến lược từ Lãnh đạo Nhà trường

 

Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS.TS Hà Văn Sự – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của việc đổi mới tư duy quản trị tài chính công đối với khoa học công nghệ. 

 

 

PGS.TS Hà Văn Sự nhấn mạnh:

• Trước đây, xã hội thường đặt câu hỏi: "Cần dành bao nhiêu nguồn lực cho khoa học và công nghệ?". Nhưng trong giai đoạn hiện nay, câu hỏi mang tính quyết định là: "Nguồn lực đó phải được phân bổ và quản trị như thế nào để thực sự tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và giá trị thiết thực cho nền kinh tế, xã hội?". 

• Mặc dù nguồn lực ngân sách nhà nước (NSNN) cam kết cho KH, CN & ĐMST đã tăng lên đáng kể, thực tiễn triển khai vẫn gặp rất nhiều rào cản trong các khâu lập dự toán, phân bổ, giao kinh phí và giải ngân. Nguồn lực tài chính không thể tự động chuyển hóa thành năng lực công nghệ nếu thiếu một cơ chế quản trị tương thích. 

• Đổi mới cơ chế phân bổ NSNN đòi hỏi một cuộc chuyển dịch triệt để về tư duy quản lý: Chuyển từ chú trọng đầu vào và kiểm soát thủ tục sang quản lý theo mục tiêu, kết quả đầu ra và tác động; chuyển từ kiểm soát chi tiết sang quản trị rủi ro gắn với trách nhiệm giải trình; chuyển từ phân bổ dàn trải sang tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ tạo đột phá. 

 

 

Lãnh đạo Nhà trường đã gợi mở bốn vấn đề trọng tâm để các đại biểu tập trung thảo luận: 

• Thứ nhất: Nhận diện chính xác các điểm nghẽn trong chu trình ngân sách, phân định rõ giữa bất cập của hệ thống văn bản pháp luật, hạn chế trong tổ chức thực hiện và điểm nghẽn về năng lực thực thi. 

• Thứ hai: Đánh giá tính đồng bộ của hành lang pháp lý, xem xét mức độ tự chủ, linh hoạt và không gian chấp nhận rủi ro khoa học đi kèm cơ chế giải trình tương thích. 

• Thứ ba: Xác định các mô hình phân bổ riêng biệt phù hợp với từng loại hình hoạt động: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, thử nghiệm hay thương mại hóa sản phẩm. 

• Thứ tư: Gắn kết phân bổ ngân sách với các ưu tiên chiến lược quốc gia, lấy giá trị gia tăng, sản phẩm cụ thể và năng lực cạnh tranh dài hạn làm thước đo hiệu quả chi tiêu công. 

 

Tiếp nối phần khai mạc, PGS.TS Nguyễn Thị Nguyệt – Chủ nhiệm Đề tài KX.07.01/21-30 đã kết nối nội dung theo trục từ nhận diện điểm nghẽn của cơ chế phân bổ ngân sách đến đề xuất các giải pháp có tính khả thi, qua đó định hướng trình bày, trao đổi phục vụ việc hoàn thiện báo cáo kiến nghị chính sách của Đề tài. 

 

 

Nội dung Chi tiết các Báo cáo Tham luận Khoa học

 

Hội thảo đã lắng nghe 5 báo cáo tham luận chuyên sâu từ các chuyên gia, đại diện cơ quan quản lý và các nhà khoa học hàng đầu. 

 

Tham luận 1: Quản trị danh mục đầu tư công và cơ chế vốn mồi thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Trình bày: TS. Võ Xuân Hoài – Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC); Đồng tác giả: TS. Nghiêm Xuân Khoát – Trưởng ban Hành chính Tổng hợp (NIC). 

 

TS. Võ Xuân Hoài tiếp cận bài toán phân bổ ngân sách từ yêu cầu cấp thiết của việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và công nghệ. Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế như Chương trình Horizon Europe (Liên minh châu Âu), Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo Vương quốc Anh (UKRI), và Cơ quan Dự án Nghiên cứu Tiên tiến về Năng lượng Hoa Kỳ (ARPA-E), báo cáo chỉ ra ba xu hướng quản trị tài trợ hiện đại: 

• Phân loại công cụ tài chính theo tính chất và cấp độ sẵn sàng của công nghệ (TRL). 

• Quản trị nguồn lực theo mô hình danh mục đầu tư (Portfolio Management) thay vì tài trợ nhiệm vụ đơn lẻ. 

• Giải ngân theo các mốc kết quả (Stage-gate approach) với thẩm quyền cho phép tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng dự án dựa trên bằng chứng thực tế. 

 

Đối với thực tiễn Việt Nam, TS. Võ Xuân Hoài chỉ rõ các nút thắt lớn:

• Công tác lập dự toán còn phụ thuộc nhiều vào số liệu lịch sử thay vì định hướng tương lai. 

• Nguồn lực bị phân mảnh theo các đầu mối hành chính, chu kỳ ngân sách theo niên độ 1 năm quá ngắn so với vòng đời nghiên cứu. 

• Quy trình thanh quyết toán nặng về kiểm soát chứng từ đầu vào, thiếu dữ liệu theo dõi tác động kinh tế - xã hội sau nghiệm thu và thiếu hẳn các công cụ kích cầu công nghệ. 

 

Giải pháp kiến nghị từ NIC:

• Chuyển từ cơ chế "chia ngân sách theo đầu mối" sang quản trị danh mục đầu tư công tạo năng lực cốt lõi. 

• Cấu trúc lại nguồn lực gồm 5 hợp phần: Đầu tư hạ tầng dùng chung; Các nhiệm vụ cạnh tranh định hướng sứ mệnh; Quỹ đồng tài trợ đổi mới công nghệ cùng doanh nghiệp; Chính sách mua sắm công đổi mới sáng tạo (Nhà nước là khách hàng đầu tiên); và Nguồn kinh phí dự phòng rủi ro nghiên cứu. 

• Định vị NSNN đóng vai trò "vốn mồi" dẫn dắt dòng vốn tư nhân cùng tham gia nghiên cứu và phát triển. 

 

Tham luận 2: Phân bổ ngân sách theo ưu tiên chiến lược và nguyên lý "Mũi khoan"

Trình bày: PGS.TS Hoàng Văn Hoan – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. 

 

 

PGS.TS Hoàng Văn Hoan đặt vấn đề: Tiền cho KH, CN & ĐMST phải đi vào đâu, chứ không chỉ đơn thuần là đi qua cơ chế nào. Theo tác giả, khái niệm "ưu tiên" không đồng nghĩa với việc lập ra một danh sách dài các ngành nghề đều được coi là quan trọng, mà bản chất là thiết lập thứ tự lựa chọn giữa các mục tiêu trong điều kiện nguồn lực quốc gia có hạn. Ưu tiên chiến lược không thể dừng ở tên gọi ngành (như bán dẫn hay trí tuệ nhân tạo), mà phải xác định chuẩn xác mắt xích giá trị, kỹ năng chuyên biệt hoặc công nghệ lõi mà Việt Nam bắt buộc phải làm chủ. 

 

Tham luận giới thiệu 4 phép thử định vị ưu tiên chiến lược: 

• Tính thiết yếu: Công nghệ hoặc năng lực đó có vai trò sống còn đối với sự phát triển và an ninh quốc gia hay không? 

• Khả năng tháo nút thắt: Nhiệm vụ đó có khả năng giải tỏa điểm nghẽn lớn của ngành, lĩnh vực hay không? 

• Sức lan tỏa: Khả năng tác động đa ngành, kéo theo sự phát triển của chuỗi cung ứng và hệ sinh thái kinh tế xung quanh. 

• Cửa sổ thời cơ: Tính kịp thời về mặt thời gian; nếu không đầu tư ngay trong khung thời gian hẹp thì quốc gia sẽ bỏ lỡ cơ hội cạnh tranh quốc tế. 

 

Minh họa bằng hình tượng "mũi khoan", PGS.TS Hoàng Văn Hoan phân tích: Nguồn lực tài chính công không thể rải mỏng tạo thành nhiều vệt đầu tư mờ nhạt, mà phải hội tụ đủ lực, đủ sâu và đủ dài vào các năng lực mang tính quyết định. Thước đo thành công của một chu kỳ ngân sách không phải là tỷ lệ giải ngân hay số lượng đề tài nghiệm thu cất ngăn kéo, mà là những năng lực công nghệ mới nào của quốc gia đã thực sự được hình thành và đưa vào phục vụ đời sống. 

 

Tham luận 3: Thực trạng cơ chế phân bổ và 4 nhóm giải pháp cải cách từ Đề tài KX.07.01/21-30

Trình bày: TS. Nguyễn Đoan Trang – Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính), Đại diện Nhóm nghiên cứu Đề tài KX.07.01/21-30. 

 

Báo cáo của Nhóm nghiên cứu đã cung cấp bức tranh toàn cảnh về cơ chế phân bổ tài chính công cho KHCN tại Việt Nam dựa trên số liệu điều tra của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng kết quả khảo sát sâu các cán bộ quản lý, chuyên gia kinh tế. 

 

Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gần đây đã mở ra các công cụ hiện đại (như kế hoạch ngân sách trung hạn 5 năm, cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, tài trợ qua quỹ, đặt hàng nhiệm vụ và chấp nhận rủi ro khoa học), việc triển khai thực tế vẫn gặp nhiều rào cản do quy trình giao - giải ngân, hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật và năng lực hấp thụ chưa được cải thiện tương ứng. 

 

Các tồn tại kéo dài được chỉ ra:

• Phân bổ thực tế vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tiêu chí đầu vào và dự toán quá khứ. 

• Chưa liên kết nguồn lực thành chuỗi giá trị: Đầu tư cơ sở vật chất – Kinh phí vận hành – Nghiên cứu cơ bản – Ứng dụng – Thương mại hóa. 

• Cơ chế hoạt động của các quỹ KHCN và quy định chuyển nguồn kinh phí qua các năm ngân sách còn thiếu tính linh hoạt. 

• Cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu với doanh nghiệp chưa có hướng dẫn triển khai thuận lợi; hệ thống dữ liệu đánh giá tác động sau nghiệm thu chưa liên thông. 

 

Nhóm nghiên cứu đề xuất 4 nhóm cải cách then chốt:

• Cụ thể hóa tiêu chí ưu tiên quốc gia gắn liền với đánh giá năng lực hấp thụ thực chất của tổ chức chủ trì. 

• Đẩy mạnh cơ chế khoán trọn gói, giải ngân theo các mốc sản phẩm đầu ra đã cam kết. 

• Áp dụng cơ chế cam kết ngân sách trung hạn và cho phép chuyển nguồn kinh phí linh hoạt đối với các nhiệm vụ nghiên cứu nhiều năm. 

• Hoàn thiện thể chế cho các quỹ tài chính ngoài ngân sách, thiết lập hành lang pháp lý đồng tài trợ công - tư và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về đánh giá hiệu quả R&D. 

 

Tham luận 4: Đổi mới quản lý chi NSNN gắn với tính bất định của nghiên cứu khoa học

Trình bày: PGS.TS Vũ Sỹ Cường – Học viện Tài chính. 

 

PGS.TS Vũ Sỹ Cường phân tích sâu sắc mối tương quan giữa quy trình quản lý ngân sách nhà nước truyền thống và tính chất đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học. 

 

 

Đặc điểm cố hữu của nghiên cứu khoa học là: Tính bất định cao, chu kỳ kéo dài, khó lượng hóa chính xác kết quả ngay từ đầu, có xác suất rủi ro thất bại và liên tục cần điều chỉnh phương pháp trong quá trình triển khai. Trong khi đó, hệ thống lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước lại vận hành dựa trên nguyên tắc niên độ, kiểm soát chi tiết từng hóa đơn, chứng từ và áp dụng cứng nhắc định mức hành chính. 

 

Sự không tương thích này dẫn đến hệ quả: Kiểm soát quá ngặt nghèo sẽ bóp nghẹt tính sáng tạo, linh hoạt của nhà khoa học; nhưng buông lỏng kiểm soát lại làm gia tăng nguy cơ thất thoát, lãng phí ngân sách. 

 

Kiến nghị giải pháp từ chuyên gia Tài chính công:

• Thiết lập cơ chế quản lý chi tiêu công phân tầng theo mức độ rủi ro và đặc thù của từng loại hình nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu thử nghiệm, phát triển sản phẩm). 

• Phân định rõ ràng giữa "rủi ro khoa học khách quan" (thất bại do tính chất phức tạp của công nghệ dù đã thực hiện đúng quy trình chuyên môn) với các "sai phạm trong quản lý tài chính". 

• Bố trí kinh phí tương xứng cho các khâu trung gian chuyển giao công nghệ, hỗ trợ thương mại hóa và phát triển mạng lưới khởi nghiệp sáng tạo. 

• Đổi mới phương thức cấp phát kinh phí qua Quỹ phát triển KH&CN; mở rộng mô hình đồng tài trợ nghiên cứu công - tư (PPP in R&D) với tỷ lệ hỗ trợ linh hoạt theo mức độ rủi ro của nhiệm vụ. 

• Nâng cao năng lực nghiên cứu của các trường đại học, gắn kết chặt chẽ mạng lưới Viện nghiên cứu – Trường Đại học – Khối Doanh nghiệp. 

 

Tham luận 5: Đánh giá dự toán NSNN 2026 và 5 nhóm giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn giải ngân

Trình bày: TS. Nguyễn Mạnh Hùng – Ủy viên chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội. 

 

 

Báo cáo của TS. Nguyễn Mạnh Hùng đưa ra những dữ liệu thực tế về ngân sách nhà nước năm 2026:

• Tổng nguồn lực cam kết của Nhà nước dành cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt mức kỷ lục. 

• Tuy nhiên, tiến độ phân bổ chi tiết và tỷ lệ giải ngân thực tế trong nửa đầu năm 2026 vẫn còn ở mức rất thấp, đặc biệt tại các dự án đầu tư phát triển KHCN. 

 

TS. Nguyễn Mạnh Hùng phân tích: Thực trạng trên chứng minh điểm nghẽn cốt lõi của Việt Nam hiện nay không nằm ở vấn đề "thiếu tiền", mà nằm ở khả năng hấp thụ vốn và năng lực chuyển hóa nguồn lực tài chính thành sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế thực chất. Khung pháp luật về ngân sách, đầu tư công, đấu thầu và khoa học công nghệ đã được Quốc hội điều chỉnh theo hướng tăng cường phân cấp, nhưng khâu tổ chức thực thi ở các bộ ngành, địa phương vẫn còn nhiều vướng mắc. 

 

Các rào cản trong tổ chức thực hiện:

• Thiếu các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết và định mức kinh tế kỹ thuật chuyên ngành phù hợp. 

• Chất lượng xây dựng danh mục dự án và công tác chuẩn bị đầu tư còn hạn chế. 

• Tâm lý e ngại trách nhiệm, lo ngại rủi ro của cán bộ quản lý các cấp. 

• Sự thiếu liên thông giữa cơ quan quản lý chuyên ngành khoa học công nghệ với cơ quan quản lý tài chính - ngân sách. 

• Các quỹ tài chính chuyên biệt về phát triển KH&CN, đổi mới công nghệ gặp khoảng trống pháp lý trong cơ chế vận hành. 

 

5 nhóm giải pháp chiến lược do đại diện Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đề xuất:

• Hoàn thiện hệ thống định mức, quy chuẩn kỹ thuật và bộ tiêu chí định lượng đánh giá hiệu quả đầu tư công cho KH&CN. 

• Chuyển mạnh mẽ sang cơ chế quản lý theo kết quả đầu ra; mở rộng phương thức Nhà nước đặt hàng nghiên cứu và khoán chi đến sản phẩm cuối cùng gắn với cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát. 

• Tăng tính chủ động, linh hoạt trong điều chuyển kế hoạch vốn; phát huy vai trò "vốn mồi" của ngân sách và xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính công đồng bộ. 

• Tháo gỡ dứt điểm thể chế vận hành cho các Quỹ phát triển KH&CN, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia và Quỹ đầu tư mạo hiểm; nghiên cứu áp dụng khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). 

• Đào tạo, nâng cao năng lực thẩm định công nghệ, quản trị dự án R&D cho đội ngũ cán bộ thực thi ở các cấp.

 

Phiên Thảo luận và Đối thoại chính sách

 

Phiên thảo luận mở diễn ra dưới sự điều hành của PGS.TS Nguyễn Thị Nguyệt đã thu hút sự tham gia đóng góp trí tuệ sôi nổi từ các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện bộ ngành. 

 

Nhận diện đúng điểm nghẽn từ góc nhìn chuyên gia

 

TS. Nguyễn Đình Thăng nhận định: Việc gia tăng quy mô vốn ngân sách chỉ thực sự mang lại hiệu quả khi giải quyết triệt để vấn đề năng lực hấp thụ của các tổ chức chủ trì, rào cản định mức chi và động lực cống hiến của các nhà khoa học. 

 

 

TS. Nguyễn Đình Thăng đề xuất:

• Cần phân định rạch ròi giữa phần ngân sách bảo đảm điều kiện vận hành bộ máy thường xuyên của nhà khoa học với phần kinh phí dành riêng để triển khai nhiệm vụ nghiên cứu. 

• Xây dựng cơ chế tài chính đặc thù nhằm thu hút và phát triển nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao. 

• Minh bạch hóa quyền quản lý, sở hữu và khai thác thương mại đối với các tài sản trí tuệ hình thành từ nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước. 

• Mở rộng phương thức Nhà nước đặt hàng nghiên cứu đối với các doanh nghiệp tư nhân có năng lực R&D vượt trội, biến ngân sách thành đòn bẩy dẫn dắt nguồn lực xã hội. 

 

Thiết kế lộ trình ưu tiên từ cơ quan quản lý nhà nước

 

Ông Phạm Đình Nguyên – Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đánh giá cao hàm lượng học thuật và giá trị thực tiễn của các bài tham luận, đồng thời đề nghị Nhóm nghiên cứu Đề tài KX.07.01/21-30 bám sát mục tiêu thực tiễn. 

 

Theo ông Phạm Đình Nguyên:

• Cần thiết kế rõ ràng thứ tự ưu tiên chính sách: Xác định nhóm giải pháp cấp bách cần xử lý ngay trong giai đoạn 2-3 năm tới và nhóm giải pháp mang tính chiến lược dài hạn, tránh dàn trải quá nhiều mục tiêu chính sách cùng lúc. 

• Cần phân tích cơ cấu chi tiêu công theo các cấu phần cụ thể: Chi cho con người, chi cho hạ tầng phòng thí nghiệm, chi cho nhiệm vụ R&D, chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. 

• Đối với hoạt động R&D, cần xác định tỷ trọng hợp lý giữa Nghiên cứu cơ bản (Nhà nước đóng vai trò chủ đạo), Nghiên cứu ứng dụng và Triển khai thử nghiệm (Doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm) để vừa củng cố nền tảng tri thức hàn lâm, vừa thúc đẩy thương mại hóa công nghệ nhanh chóng ra thị trường. 

 

 

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận đều đạt được sự đồng thuận cao về việc: Không thể tiếp tục áp dụng cơ chế quản lý chi tiêu hành chính công thông thường cho lĩnh vực khoa học công nghệ. Một hành lang pháp lý vượt trội, chấp nhận độ trễ và rủi ro có kiểm soát của nghiên cứu khoa học chính là điều kiện tiên quyết để giải phóng sức sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam. 

 

Tổng kết và Định hướng Triển khai của Đề tài KX.07.01/21-30

 

Phát biểu bế mạc Hội thảo, PGS.TS Hà Văn Sự – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại đã tổng kết lại các thông điệp cốt lõi: 

• Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm: Tăng quy mô đầu tư công cho KH, CN & ĐMST là xu thế tất yếu nhưng phải đi đôi với phân bổ đúng địa chỉ, tập trung nguồn lực vào các nhiệm vụ có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. 

• Phát huy vai trò vốn mồi của NSNN: Ngân sách nhà nước không thay thế nguồn vốn xã hội mà đóng vai trò dẫn dắt, chia sẻ rủi ro nhằm kích thích khối doanh nghiệp tư nhân gia tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển công nghệ. 

• Đại học là hạt nhân đổi mới sáng tạo: Cần định vị các trường đại học lớn như Trường Đại học Thương mại là những trung tâm nghiên cứu học thuật, đào tạo nhân lực chất lượng cao, chuyển giao tri thức và đồng hành cùng doanh nghiệp kiến tạo giải pháp phát triển bền vững. 

 

 

Ban Tổ chức Hội thảo trân trọng ghi nhận và tổng hợp toàn bộ các tham luận, ý kiến phản biện của các đại biểu. Đây là nguồn luận cứ khoa học thực tiễn vô cùng quý giá để Ban Chủ nhiệm Đề tài KX.07.01/21-30 cùng Viện Đổi mới Sáng tạo và Phát triển Bền vững (IISD – TMU) hoàn thiện Báo cáo tư vấn chính sách trình Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Chính phủ và Quốc hội trong thời gian tới.